soi cầu bằng excel

Thảo luận trong 'Phần Mềm Xổ Số - Phát Hiện - Phát Triển' bắt đầu bởi exceltuyetvoio, 4/10/13.


  1. exceltuyetvoio

    exceltuyetvoio Thành Viên Mới

    youtuBe
    SÔI CẦU BẰNG EXCEL
     
    Chỉnh sửa cuối: 4/10/13
  2. Bahoian

    Bahoian Thần Tài

    Đối với khoa tử vi, bói toán thì vấn đề con ranh con lộn được giải thích bằng cách cho rằng những đứa con sinh ra bị chết yểu là do bị phạm vào các giờ kỵ nguy hiểm.

    Có 5 giờ đại kỵ gây chết chóc yểu vong cho con trẻ lúc chào đời:

    http://tuvi.us/product/typview/265/Bi-an-Ve-Tien-Kiep-Hau-Kiep-(Chuong-1---Phan-I)

    http://tuvi.us/product/view/251/Bi-an-Ve-Tien-Kiep-Hau-Kiep-(Chuong-5---Phan-II)

    1. Giờ Quan Sát: Khi người mẹ lâm bồn, đứa con sinh ra phạm vào giờ quan sát thì đứa con này sẽ khó tránh được sự tử vong đến nhanh. Có khi đứa bé sinh ra được vài giờ thì chết hoặc khi người mẹ chuyển bụng, hài nhi cũng đã không sống. Trong khoa tử vi, có nói đến cách tính giờ quan sát. Các nhà bói toán và luận đoán tử vi thường tính giờ quan sát bằng cách căn cứ vào giờ sinh và tháng sinh của đứa bé để định cát, hung. Theo khoa tử vi thì mỗi tháng trong năm có một giờ quan sát tương ứng như sau:

    Tháng; Phạm giờ quan sát.

    Tháng giêng; Giờ Tỵ; Từ 9 giờ sáng đến 11 giờ trưa.

    Tháng hai; Giờ Ngọ; Từ 11 giờ đến 1 giờ trưa.

    Tháng ba; Giờ Mùi; Từ 1 giờ đến 3 giờ trưa.

    Tháng tư; Giờ Thân; Từ 3 giờ đến 5 giờ chiều.

    Tháng năm; Giờ Dậu; Từ 5 giờ đến 7 giờ tối.

    Tháng sáu; Giờ Tuất; Từ 7 giờ đến 9 giờ tối.

    Tháng bảy; Giờ Hợi; Từ 9 đến 11 giờ khuya.

    Tháng tám; Giờ Tý; Từ 11 giờ đến 1 giờ khuya.

    Tháng chín; Giờ Sửu; Từ 1 giờ 3 giờ khuya.

    Tháng mười; Giờ Dần; Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng.

    Tháng mười một; Giờ Mão; Từ 5 giờ đến 7 giờ sáng.

    Tháng mười hai; Giờ Thìn; Từ 7 giờ đến 9 giờ sáng.

    Nếu đứa bé sinh vào tháng 6 nhằm vào giờ Tuất tức là bị phạm giờ quan sát. Vì khoa tử vi xuất phát từ Trung Hoa nên phải tính theo Đông Phương. Vì thế phải đối chiếu với giờ chính thức quốc tế. Tuy nhiên dù sao đây cũng chỉ là cách giải thích về trường hợp trẻ sơ sinh bị yểu mệnh theo khoa tử vi mà thôi. Cũng theo cách giải thích này thì nếu may mắn đứa bé được sống còn thì thường hay bị đau ốm, còi cọt, mặt mày ngơ ngác, đôi khi tánh nết khó dạy. Vì thế nhiều khi trong dân gian người ta hay bảo đứa bé nào đó bị quan sát có nghĩa là đứa bé ấy xanh xao còm cỏi (trường hợp này hoàn toàn khác xa trường hợp đứa bé xanh xao vì thiếu ăn, nghèo khổ).

    2. Giờ Kim Sà.

    Ngoài giờ quan sát ra, đôi khi đứa bé chào đời phạm vào giờ xấu gọi là giờ Kim Sà cũng khó ng. Nếu may mắn thoát được yểu tử thì lại rất khó nuôi vì cứ đau ốm tai nạn hoài. Theo kinh nghiệm của các người xưa (Trung Hoa và Việt Nam) thì con trẻ phạm giờ Kim Sà khó sống qua 12, 13 tuổi thường thì khoa tử vi, bói toán còn tìm hiểu thêm sự xung khắc giữa người mẹ và đứa bé. Nếu bản mệnh (mạng) người mẹ lại khắc bản mệnh người con và khi đứa bé chào đời lại phạm giờ Kim Sà thì rất khó sống, (ví dụ mẹ mạng thủy con mạng hỏa, mẹ kim con một, mẹ mộc con thổ, mẹ hỏa con kim). Nếu bản mệnh người mẹ thuận hợp hay phù sinh cho con thì hy vọng qua khỏi nguy hiểm tánh mạng nhưng thường khó nuôi, èo ọt. (Ví dụ mẹ mộc con là hỏa (mộc sinh hỏa), mẹ hỏa con thổ (hỏa sinh thổ), mẹ kim con thủy (kim sinh thủy) mẹ thủy con một (thủy dưỡng mộc), mẹ thổ con kim ( thổ sinh kim). Trường hợp này đứa bé ít nguy hiểm hơn gọi là phạm vào bàng giờ.

    Các tính giờ theo khoa tử vi phải qua nhiều giai đoạn chuyển hóa về năm, tháng, giờ với lá số tử vi. Sau đây là sơ lược cách tính của người xưa:

    A) sơ đồ về các cung ở lá số tử vi

    B) Cách tính giờ Kim Sà:

    Trước tiên ghi tên cho đúng ngày tháng năm sinh giờ sinh của đứa bé sau đó lần lượt tính qua 4 giai đoạn sau:

    Giai đoạn 1: gọi cung Tuất trong lá số là năm tý tinh theo chiều thuận (xem mũi tên và ghi chú) để năm sinh của đứa bé (ví dụ năm Quý Dậu) đến cung nào trong lá số thì coi cung đó là tháng giêng.

    Giai đoạn 2: Từ cung ứng với tháng giêng đếm theo chiều nghịch lại cho đến tháng đứa bé sinh (ví dụ tháng 4 âm lịch). Ứng vào cung nào trong lá số.

    Giai đoạn 3: Từ cung ứng với tháng sinh của đứa bé gọi là ngày mùng một lại đếm theo chiều thuận cho đến ngày sinh của đứa bé trùng với cung nào của lá số thì gọi cung đó là giờ Tý.

    Giai đoạn 4: Từ cung ứng với giờ Tý, đếm theo chiều lại để đến giờ sinh của đứa bé trùng vào cung nào của lá số thì đó chính là cung tốt hay cung xấu.

    Nếu cung này là cung Tuất hay cung Thìn sẽ rất nguy hiểm cho đứa con trai mới sinh vì gặp đúng giờ Kim Sà. Nếu là cung Mùi hay cung sửu thì có thể vượt qua nguy hiểm nhưng cũng khó nuôi, dễ bị đau ốm hoài đó cũng là giờ bàng giờ.

    Đối với đứa bé mới sinh là gái thì nếu gặp cung Tuất hay Thìn thì thoát yểu tử nhưng lại khó nuôi còn nếu phạm vào cung Sửu, Mùi thì sẽ nguy hiểm vì sẽ nguy hiểm vì đã gặp giờ Kim Sà.

    3. Giờ Tướng Quân, giờ Dạ Đề, giờ Diêm Vương

    Ngoài giờ bàng giờ ra khoa tử vi còn cho rằng con trẻ mới sinh phạm giờ Tướng Quân tuy có xấu nhưng không nguy hiểm đến tính mạng màchỉ có tật khóc đêm, khờ khạo. Người xưa nhất là các nhà bói toán cho rằng sở dĩ con trẻ hay khóc đêm và khóc dai là vì khi sinh phạm vào giờ Dạ Đề. Trường hợp cuối cùng cũng đáng quan tâm mà khoa tử vi đã nêu ra là vấn đề phạm giờ Diêm Vương. Giờ Diêm Vương là giờ khi mà đứa bé chào đời gặp phải. Thường các nhà bói toán tính theo mùa sinh tương ứng với giờ xấu Diêm Vương như mùa xuân giờ Sửu và Mùi là phạm, mùa hạ giờ Thìn giờ Tuất (phạm), mùa thu giờ Tý giờ Ngọ (phạm) mùa đông giờ Mão, giờ Dậu (phạm). Khi phạm nhằm giờ Diêm Vương, đứa bé lớn lên thường có triệu chứng lạ lùng hay co giật chân tay, thần kinh bất ổn và đôi khi nói những lời kỳ dị như bị ma quỷ ám ảnh.

    Trên đây là cách giải thích của khoa tử vi, lý số. Về sự yểu mệnh của các con trẻ. Quả thật cho đến nay, vấn đề vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Chỉ biết rằng theo kinh nghiệm của người xưa, trong dân gian thì các trẻ con mới sinh phạm nhằm các giờ vừa kể thường khá nuôi và khó thọ. Tuy nhiên câu hỏi lại được đặt ra là nguyên nhân nào khiến hài nhi chào đời vào giờ đó? Phải chăng đó là sự tình cờ, là sự tuân theo quy luật chuyển hóa của các giai đoạn thời gian tự nhiên trong vũ trụ như thụ thai lúc nào thì giai đoạn phát triển phôi thai đến ngày sinh nở đã định theo đúng chi kỳ thời gian. Nhưng thắc mắc vẫn còn là không phải luôn luôn lúc nào thai nhi lọt lòng mẹ cũng vẫn đúng chín tháng 10 ngày cả. Vậy tại sao phải đợi đến giờ đó tháng đó năm đó đứa bé mới chào đời? Các y bác sĩ ở ngành sản khoa cho biết có khi người sản phụ chuyển bụng dữ dội tưởng sinh ngay tức thì nhưng mãi đến chiều tối hài nhi mới chào đời. Như vậy giờ phút đứa bé chào đời là ngẫu nhiên hay có một sự sắp xếp huyền bí nào?
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/5/16
    bachinon, Ttc, langtu78 and 4 others like this.

  3. Bahoian

    Bahoian Thần Tài

    Chương 1. Thiên Đạo

    Dục thức tam nguyên vạn pháp tông, tiên quan đế tái dữ thần công

    Trời có âm dương; cho nên mùa Xuân mộc, mùa Hạ hỏa, mùa Thu kim, mùa Đông thủy, tứ quý thổ vậy; tùy theo thời lệnh mà hiển hiện sinh sát. Trong mệnh có trời đất người tức lý Tam nguyên, mọi thứ căn bản đều như thế cả.

    Nhâm thị viết: Can là thiên nguyên, chi là địa nguyên, trong chi tàng chứa nhân nguyên. Con người thụ mệnh, các khí không đồng đều, chung quy không vượt khỏi cái lý tam nguyên, nó chính là phương pháp tông vậy. Âm dương vốn là thái cực, mệnh danh vua nâng đỡ, ngũ hành đi khắp bốn mùa, là thần sinh sát, thống quản hệ Tam tài, vạn vật bắt nguồn từ đó. “Trích thiên tủy” chương Thiên đạo tỏ rõ như thế.

    Lời người dịch:
    Lời nói của người xưa thường ngắn gọn, súc tích đôi khi khó hiểu. Chương thiên đạo này, cổ nhân muốn bàn đến cái nguồn gốc âm dương mà kinh dịch đã nói đến. Hai khí âm dương này cọ xát nhau mà có bốn mùa, mùa xuân mộc, mùa hạ hỏa, mùa thu kim, mùa đông thủy và bốn tháng cuối của bốn mùa là thổ khí (tháng 3, 6, 9, 12). Năm cái khí này tư lệnh bốn mùa, thuận thì sinh nghịch thì sát.
    Con người bẩm thụ cái thiên khí âm dương, ngũ hành mà thành hình tượng. Tuy thụ mệnh không đồng như nhau, nhưng tựu trung lại thì không vượt ra khỏi lý tam nguyên thiên địa nhân vậy. Mệnh bẩm thụ khác nhau thì cát hung cũng không giống nhau, thế gian có vạn vật tất có vạn sự.
    Thế cho nên người học đoán mệnh cái cần yếu nhất là hiểu được cái cơ động tịnh của âm dương, cái sinh vượng của ngũ hành trong tứ trụ có trong thiên can và địa chi được mệnh danh là tam tài thiên địa nhân. Cứ theo cái lẽ ấy mà luận đoán cát hung, đó là phương pháp chính tông vậy. Vì vậy mà cổ nhân mới khuyên chúng ta: muốn biết được lý tam nguyên thí trước phải xem sự động tĩnh của âm dương sau đó mới xét đến cái lý của ngũ hành (Dục thức tam nguyên vạn pháp tông, tiên quan đế tái dữ thần công) là như thế đó.


    Chương 2. Địa Đạo

    Khôn nguyên hợp đức cơ giam thông, ngũ khí thiên toàn định cát hung

    Đất có cương nhu, mà ngũ hành sinh ở Đông Nam Tây Bắc và Trung ương, trời đất giao cảm nhau mà sinh ra cái khí diệu dụng. Con người do bẩm thụ cái thiên khí không đồng đều nhau, cũng vì vậy mà cát hung theo đó cũng khác nhau như thế.

    Nhâm thị viết: “Cao lớn thay đức của Kiền, vạn vật từ đó”, “cao lớn thay đức của Khôn, vạn vật được sinh”, Kiền chủ cương cứng, Khôn chủ nhu thuận. Cương nhu theo nhau, mạnh yếu trợ nhau; đắp đổi nhau, qua lại đóng mở. Chỉ do cái khí ngũ hành thiên lệch, mà cát hung của mệnh nhân đó mới phát sinh vậy.

    Lời người dịch:
    Âm dương cọ sát nhau mà sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Đứng đầu quẻ dương là Kiền, đứng đầu quẻ âm là Khôn. Kiền chủ cương kiện là cái tượng ban đầu của sự vật, nên thánh nhân mới bảo “đại tai Kiền nguyên”. Khôn chủ nhu thuận là cái hình của sự vật, nên thánh nhân mới bảo”chí tai Khôn nguyên”.
    Hai khí Kiền Khôn này một cái cương một cái nhu cùng theo nhau, tương trợ nhau, cùng giao cảm nhau mà sinh ra sáu quẻ Chấn Tốn Ly Khảm Cấn Đoài. Vạn vật cũng từ đó mà tương sinh tương diệt. Thông cũng tượng cho quẻ Thái là thời mà âm dương tương giao tư sinh vạn vật. Giam cũng tượng cho quẻ Bĩ là thời mà hai khí âm dương bất tương giao vạn vật tất tương diệt.
    Nhân sinh bẩm thụ mệnh, khí ngũ hành thiên lệch bất toàn mà họa phúc, cát hung cũng từ đó mà sinh ra. Vì thế cho nên, thánh nhân khuyên người học đoán mệnh cần hết sức quan tâm sự thông thuận của hai khí âm dương, sự lệch lạc của ngũ hành mà quyết định cát hay hung, thành hay bại, thọ yểu cùng thông (Khôn nguyên hợp đức cơ giam thông, ngũ khí thiên toàn định cát hung) ý là như vậy đó.


    Chương 3. Nhân Đạo

    Đái thiên phúc địa nhân vi quý, thuận tắc cát hề hung tắc bội

    Vạn vật sinh ra trong trời đất không có giống nào mà chẳng thụ cái khí ngũ hành, duy chỉ con người thụ được cái khí ngũ hành toàn mà quý vậy. Nhưng cát hung chẳng đồng nhau là do ngũ hành đi thuận hay nghịch đó vậy.

    Nhâm thị viết: Con người sống giữa trời đất, đầu tiếp giáp trời chân tiếp giáp đất, bát tự cần nhất là thiên can và địa chi thông thuận chớ nên nghịch thường. Thuận thì được tương sinh, nghịch thì bị khắc hại, thế cho nên cát hung cũng từ đó mà phân rẽ vậy.
    Như thiên can khí nhược, được địa chi sinh; địa chi khí suy, được thiên can trợ chi, tức can chi thông thuận tất cát; giả như thiên can suy nhược mà còn bị địa chi ức chế, địa chi khí nhược mà còn bị thiên can khắc chế, tức can chi nghịch thường hung nguy vậy.
    Thí như thiên can Mộc rất sợ hành Kim khắc thiên can Mộc, địa chi có Tý Hợi hóa Kim sinh can; nếu địa chi không có Tý Hợi, mà thiên can có Nhâm Quý có thể hóa Kim sinh Mộc; còn như thiên can không có Nhâm Quý mà địa chi có Dần Mão mộc, tức thiên can thông gốc (thông căn); bằng như địa chi không có Dần Mão mộc, thiên can có Bính Đinh hỏa khắc chế kim, thiên can mộc có sinh cơ, sự cát có thể biết được.
    Nhược bằng thiên can không có Nhâm Quý, mà trái lại trên can còn hiển lộ can Mậu Kỷ; còn địa chi không có Hợi Tý Dần Mão, mà trái lại còn thấy xuất hiện Thìn Tuất Sửu Mùi Thân Dậu, thổ kim trùng trùng sinh trợ kim, thiên can mộc bị khắc vô sinh trợ, hung nguy có thể biết được vậy. Dư lại các loại cứ thế mà suy.
    Đại phàm vạn vật không vật nào mà chẳng mang thuộc tính ngũ hành, trên tiếp giáp với trời dưới tiếp giáp với đất, như loài chim bay trên trời cá bơi dưới nước, cỏ cây muông thú chạy trên bờ đều mang thuộc tính ngũ hành khí chuyên sinh của nó, như loài mang bộ lông vũ thuộc hỏa, loài cỏ cây thuộc mộc, loài cá bơi lội dưới nước thuộc kim, duy con người thụ đắc khí thuộc thổ, cư trung ương gồm nắm cả kim mộc thủy hỏa, kim mộc thủy hỏa thành từ thổ, vì vậy tuy ngũ hành nhất khí nhưng rất tôn quý. Thế cho nên bát tự tối cần tứ trụ lưu thông, ngũ hành sinh hóa hữu tình, đại kỵ tứ trụ khuyết hãm, ngũ hành thiên khô. Ngụy thư vọng ngôn cho rằng tứ trụ tứ Mậu Ngọ là mệnh thánh đế, tứ Quý Hợi là mệnh của hầu bá, nghiên cứu cận lý mới biết hậu nhân ngoa truyền.
    Ta trong quá trình hành đạo, đã xem qua những tứ trụ có tứ Mậu Ngọ, tứ Đinh Mùi, tứ Quý Hợi, tứ Ất Dậu, tứ Tân Mão, tứ Canh Thìn, tứ Giáp Tuất và nhiều hơn thế nữa, đều luận mệnh theo lẽ thiên khô, chẳng cái nào mà không ứng nghiệm. Như Càn tạo mệnh tứ trụ tứ Nhâm Dần, Nhâm Dần / Nhâm Dần / Nhâm Dần / Nhâm Dần địa chi Dần tàng chứa hỏa thổ trường sinh, thực thần lộc vượng, trên có Nhâm thủy sinh cho, mặc dù thê tài tử tôn ngộ Lộc, nhưng chẳng toàn mỹ, nguyên nhân là do hỏa thổ trong Dần không có chi dẫn xuất, cho nên tuổi thơ cô khổ, trung vận cơ hàn, mãi quá 30 tuổi, hạn hành phương nam dẫn xuất hỏa trong Dần, kinh doanh phát tài, tuổi già không con, gia nghiệp bị phân chia tranh đoạt, có thể biết được như vậy nhờ luận theo cách cục thiên khô. Do vậy nghiệm ra rằng, mệnh cục quý trung hòa, thiên khô chung quy có tổn hại; mệnh cục cần ngũ hành cân bằng đầy đủ, mệnh cục kỳ dị bất túc lấy chi nương tựa vậy.



    Lời người dịch:
    Trời đất có âm dương ngũ hành, nhị khí giao cảm nhau mà sinh ra vạn vật. Thế cho nên, dưới thế gian không có giống loài nào mà không thụ đắc cái khí âm dương ngũ hành của trời đất.
    Con người là động vật chí linh, do bẩm thụ khí âm dương ngũ hành toàn vẹn. Nhưng do sự thụ khí bất đồng và sự lưu hành của khí âm dương ngũ hành thuận nghịch mà cát hung họa phúc không đồng nhau vậy.
    Âm dương ngũ hành trong bản mệnh chính là can chi, cần nhất là trung hòa, bất túc, khiếm khuyết dù có phú quý chăng nữa cũng bất toàn. Thế cho nên, thánh nhân khảo mệnh cần sự trung hòa đầy đủ theo thường lý, chớ nên kỳ dị khác lạ nghịch thường chung cuộc hung hại (Đới thiên phúc địa nhân vi quý, thuận tắc cát hề hung tắc bội).


    Chương 4. Tri Mệnh

    Yếu dữ nhân gian khai lung hội, thuận nghịch chi cơ tu lý hội

    Nhâm thị viết: Câu nói trên thật chí lý, chỉ sợ người học mệnh sau này chẳng nghiên cứu tường tận cái cơ thuận nghịch. Vội vàng đàm luận nhân mệnh, làm mê hoặc không ít, xem tạp cách hay cục lạ, hết thảy Thần sát đem ra dùng một cách rất hoang đường, Đào hoa hàm trì chuyên luận nữ mệnh tà dâm, cầu thọ quỷ thần, Kim xà thiết tỏa sai lầm tiểu nhi Quan sát, làm rối lòng cha mẹ; chẳng cần biết nhật chủ cường nhược đều cho Ấn Thực là phúc, Kiêu Kiếp là tai ương, mà không biết rằng Tài Quan ngang nhau, lấy lục thần ngang nhau, lại cho rằng nguồn Tài có thể dưỡng mệnh, Quan có thể vinh thân thật là ngu muội quá thay!
    Ví như nguồn Tài có thể dưỡng mệnh mà Tài nhiều thân nhược chẳng là nhà giàu có mà bần tiện đó sao, Quan có thể vinh thân mà thân suy Quan vượng chỉ là quý hiển mà chết yểu, đê tiện đó. Ta từng khảo xét cổ thư, phương pháp tử bình, họa phúc cát hung thọ yểu toàn tại tứ trụ ngũ hành. Xem xét sự suy vượng, nghiên cứu sự thuận nghịch, xét đoán sự tiến thoái mà luận hỷ kỵ, ấy thế mà lĩnh hội được. Đến như cách hay cục lạ, lấy đó làm chính lý tất sai lầm lớn, ngoa dĩ truyền ngoa, nhân đó làm lý cho sự cát hung, thật là hôm muội khó sáng vậy. Thư viết: “dụng thần Tài tinh không nên gặp Kiếp tài, dụng thần Quan tinh không nên gặp Thương quan, dụng thần Ấn tinh không nên gặp Tài, dụng thần Thương thực không nên gặp Kiêu”, bốn câu trên thật chí lý, cốt yếu ở một chữ “Dụng”. Người học mệnh không hiểu biết, không nghiên cứu căn nguyên cho tường tận, chuyên lấy Tài Quan làm trọng, mà không biết rằng: “chẳng dụng Tài tinh có thể dụng Kiếp, chẳng dụng Quan tinh có thể dụng Thương quan, chẳng dụng Ấn tinh có thể dụng Tài, chẳng dụng Thương thực có thể dụng Kiêu”. Cái cơ thuận nghịch không lĩnh hội được, mông muội đến thế làm sao có thể luận cát hung, biện hiền ngu, làm mê hoặc kẻ hậu học như thế thật quá lắm vậy!

    Càn tạo: Tân Mão / Đinh Dậu / Canh Ngọ / Bính Tý
    Đại vận: Bính thân / ất mùi / quý tị / nhâm thìn / canh dần / kỷ sửu / mậu tý / đinh hợi

    Thiên can Canh Tân Bính Đinh, chính phối hỏa luyện thu kim; địa chi Tý Ngọ Mão Dậu, cư ở bốn cung Khảm Ly Chấn Đoài. Cả bốn chi đều ở tứ chính, khí quán tám phương, nhưng ngũ hành thiếu thổ, tuy sinh vào mùa thu đương lệnh, chẳng luận vượng. Rất cần Tý Ngọ gặp xung, thủy khắc hỏa, khiến cho Ngọ hỏa chẳng khắc phá Dậu kim, mà sinh phù nhật chủ; đổi lại Mão Dậu gặp xung, kim khắc mộc, tất Mão mộc không thể sinh trợ Ngọ hỏa, chế phục đắc cách, sinh hóa hữu tình. Mão Dậu tức Chấn Đoài chủ nhân nghĩa hơn người; Tý Ngọ tức Khảm Ly, là khí đứng đầu trong trời đất. Với lại Khảm Ly đắc nhật nguyệt chi chính thể, vô tiêu vô diệt, một tươi nhuận một ấm áp, tọa tại đoan môn, Thủy Hỏa Ký Tế. Cho nên tám phương quy phục, bốn biển cùng về, thiên hạ thái bình thịnh thế vậy.
    (Thanh Cao tông - Càn Long. Trích trong Ái tân giác la mệnh phổ).

    Đổng trung đường tạo mệnh: Canh Thân / Canh Thìn / Mậu Thìn / Mậu Ngọ
    Đại vận: Tân tị / mậu ngọ / quý mùi / giáp thân / ất dậu / bính tuất / đinh hợi / mậu tý

    Nhật can Mậu thổ, sinh vào tiết quý xuân vào giờ Ngọ, tựa như vượng tướng, tháng mùa xuân thổ hư khí, không như thổ tháng 6, 9 là thực thổ. Vả lại hai chi Thìn thấp thổ mộ khố của thủy, có thể tiết khí hỏa sinh kim, can thấu lưỡng Canh, chi hội Thân Thìn, nhật chủ bị tiết chế quá độ, nên chọn dụng thần là Đinh hỏa tàng trong chi Ngọ sinh phù. Rất cần không thấy thủy mộc, nhật chủ Ấn thụ không bị thương, tinh thần sung túc, thuần túy trung hạ. Một đời chẳng gặp hoạn nạn, hơn ba mươi năm hưởng thái bình sự nghiệp, mãi đến vận Mậu Tý hội Thân Thìn thủy cục vượng thất lộc, hưởng thọ 80 tuổi vậy.

    Càn tạo: Tân Dậu / Tân Sửu / Kỷ Dậu / Bính Dần
    Đại vận: Nhâm dần / quý mão / giáp thìn / ất tị / bính ngọ / đinh mùi / mậu thân / kỷ dậu

    Giống như cách tạo mệnh trên tuy có khác nhau về tiểu tiết nhưng đại loại thì cũng như thế. Nhật can Kỷ thổ, tuy sinh vào tháng Sửu thổ vượng, nhưng thổ mùa đông hàn thấp, sao bằng thổ tháng 6, 9 ôn táo. Với lại, nguyệt lệnh Sửu hàm chứa kim thủy, can thấu hai Tân, chi bán hội Sửu Dậu kim cục, nhật can bị tiết chế quá độ, dụng thần tất chọn Bính hỏa. Rất may thời trụ Dần mộc, hàn cực sinh dương, Bính hỏa hữu căn. Tướng người nhân đức, tuấn tú, hành vận Nhâm Quý thủy thi hương trắc trở, sang vận Tị Ngọ Mùi hỏa địa, tiền trình tốt đẹp không thể nói hết (Tân Tăng).

    Càn tạo: Nhâm Thìn / Nhâm Dần / Giáp Dần / Canh Ngọ
    Đại vận: Quý mão / giáp thần / ất tị / bính ngọ / đinh tị / mậu thân / kỷ dậu / canh tuất

    Họ vương tạo mệnh, luận theo lẽ thường cho rằng thân cường Sát thiển, lấy Canh kim Thất sát làm dụng thần, mùa xuân mộc vượng gặp kim, tất là khí lương đống, cố gắng độc thư tất sau nên danh; mãi quá ba mươi không thấy ứng nghiệm, gia nghiệp tiêu hết dần, nên nhờ ta suy đoán. Ta thấy rằng chi tọa lưỡng Dần, nguyệt lệnh đương quyền, can thấu hai Nhâm, sinh trợ vượng thần, chi năm Thìn thổ là thủy khố, chứa thủy dưỡng mộc, không thể sinh kim, một Canh kim vừa hưu tù vô khí, vừa bị Ngọ hỏa chế khắc, Nhâm thủy tiết khí, không chỉ vô dụng mà cản trở lại sinh thủy. Đại phàm vượng cực, nên tiết khí không nên bị khắc, nên thuận theo thế thịnh, chẳng nên nghịch thế. Lấy Ngọ hỏa làm dụng thần, tương lai vận hành hỏa địa, tuy chẳng hiển quý, nhất định giàu có, bằng như chờ đợi vận hội, tất có ngày như thỏa nguyện. Rời bỏ nho học chuyển sang kinh doanh, tới vận Bính Ngọ, khắc mất Canh kim, không quá mười năm, phát tài hơn mười vạn, cho nên Canh kim là khắc thần vậy.

    Càn tạo: Quý Dậu / Giáp Tý / Quý Hợi / Tân Dậu
    Đại vận: Quý hợi / nhâm tuất / tân dậu / canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ / đinh tị / bính thìn

    Một người ở Phúc Kiến không tính danh, mùa đông năm Canh Ngọ, ta suy luận, đại loại lấy kim thủy làm dụng thần, chẳng nên lấy hỏa thổ làm dụng. Người ấy nói: kim thủy vượng cực, cớ gì lấy kim thủy làm dụng thần? Hay sách mệnh có thiếu sót gì chăng? Sách xưa thường viết: “vượng nên tiết nên thương”, kim vượng đầy tức cục kim thủy, trái lại lấy kim thủy làm dụng thần, tức mệnh thư không có khiếm khuyết hay sao? Ta nói: sách xưa không sai. Bởi do người học mệnh không thể hiểu hết cái ngũ hành ảo diệu trong mệnh cục. Thử tạo thủy vượng gặp kim, tất thành thế thủy thịnh, khô mộc bị trôi dạt, không tiết được thủy sinh mộc, thủy vượng không nơi phát tiết tất thành thủy lưu, phản thành họa thủy, chẳng là điềm xấu hay sao. Sơ vận Quý Hợi, Quý thủy sinh trợ dụng thần thủy vượng, sinh trợ có thừa; bước sang đại vận Nhâm Tuất thủy bất thông căn, khí thế nghịch hành, thủy bị hình phạt hao tán; Tân Dậu Canh Thân, Đinh Tài lưỡng vượng; Kỷ Mùi Mậu Ngọ nghịch khắc dụng thần, sự nghiệp trôi theo dòng nước chảy, hình thê khắc tử, cô khổ bần hàn. Ví như “nước sông Côn Lôn, thuận chảy xuôi dòng, không nên nghịch dòng mà gây họa”. Thế cho nên, cái cơ thuận nghịch không nên không biết tường tận vậy.

    Càn tạo: Quý Dậu / Quý Hợi / Quý Hợi / Tân Dậu
    Đại vận: Nhâm tuất / tân dậu / canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ / đinh tị / bính thìn / ất mão

    Theo “Trích thiên tủy” chép cách tạo mệnh trên như quý dậu / giáp tý / quý hợi / tân dậu, căn cứ vào sự suy tính, tựa hồ sau ngày Giáp Tý mới là ngày giao tiết, những chi tiết nhỏ ấy nên suy ứng tựu chung ngày Quý Hợi, bát tự như trên. Ta so sánh, cả hai cách tạo mệnh trên đại khái thủy cục đều vượng, cách cục tương đồng, đại vận sai lệch không quá mười ngày, nhân đó mà sách luận mệnh luận đoán chính xác. Với lại, họ Nhâm Thiết Tiều sở đắc học mệnh, chẳng lẽ không biết được những điều ấy sao, về phương diện văn tự mà thấy được, mệnh chủ vốn người thông hiểu mệnh lý, đại khái bát tự thuộc loại hình dự báo tự nhiên, chẳng cần phải dụng tâm nhiều mới thấu hiểu được. Cách hành văn cao siêu, ý tứ sâu xa vượt thời đại, chẳng kiềm hãm cái tâm sáng thần minh, làm nghiêng ngả lòng người vậy.

    Lời người dịch:
    Âm dương thuận nghịch luân chuyển không ngừng, thuận tiến tức khí vượng, nghịch thoái tức khí suy. Ví như hỏa mùa hạ sinh vượng khí tức hành khí thuận tiến, cũng là khí tử tuyệt nghịch thoái của mùa đông vậy. Thế cho nên người học mệnh cần nên lĩnh hội được cái cơ ảo diệu thuận nghịch tiến thoái của âm dương ngũ hành. Thế cho nên thánh nhân mới bảo “thuận nghịch chi cơ tu lý hội” vậy.

    Càn tạo: Quý Dậu / Giáp Tý / Quý Hợi / Tân Dậu
    Đại vận: Quý hợi / nhâm tuất / tân dậu / canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ / đinh tị / bính thìn

    Đoạn về sau là ở sách "Tích Thiên Tủy Xiển Vi":


    Càn tạo: Quý Dậu / Quý Hợi / Quý Hợi / Tân Dậu
    Đại vận: Nhâm tuất / tân dậu / canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ / đinh tị / bính thìn / ất mão

    Theo “Trích thiên tủy” chép cách tạo mệnh trên như quý dậu / giáp tý / quý hợi / tân dậu, căn cứ vào sự suy tính, tựa hồ sau ngày Giáp Tý mới là ngày giao tiết, những chi tiết nhỏ ấy nên suy ứng tựu chung ngày Quý Hợi, bát tự như trên. Ta so sánh, cả hai cách tạo mệnh trên đại khái thủy cục đều vượng, cách cục tương đồng, đại vận sai lệch không quá mười ngày, nhân đó mà sách luận mệnh luận đoán chính xác. Với lại, họ Nhâm Thiết Tiều sở đắc học mệnh, chẳng lẽ không biết được những điều ấy sao, về phương diện văn tự mà thấy được, mệnh chủ vốn người thông hiểu mệnh lý, đại khái bát tự thuộc loại hình dự báo tự nhiên, chẳng cần phải dụng tâm nhiều mới thấu hiểu được. Cách hành văn cao siêu, ý tứ sâu xa vượt thời đại, chẳng kiềm hãm cái tâm sáng thần minh, làm nghiêng ngả lòng người vậy.


    Chương 5. Lý Khí

    Lý thừa khí hành khởi hữu thường, tiến hề thối hề nghi ức dương

    Cái khí đóng mở qua lại, lưu hành trong khoảng trời đất. Cái khí đó khi ban đầu thì nó tiến, tiến mãi cùng cực thì nó thoái, như Giáp mộc vào tháng 3; một khi cái khí này tiến đến cực thịnh thì nó thoái, như Giáp mộc sinh vào tháng 9 vậy. Người học mệnh nên bình lặng mà định xét nông sâu, ấy có thể là ngôn mệnh vậy.

    Nhâm thị viết: Cái cơ tiến thoái, không thể không biết. Trường sinh thì sinh vượng, tử tuyệt thì suy, cần nên biện rõ cái lý tiến thoái, sau đến xem xét cái chân suy vượng vậy. Đại phàm ngũ hành vượng tướng hưu tù, dựa theo tứ quý mà định. Tương lai giả tiến, tức vượng tướng; tiến mà đương lệnh nắm quyền tức vượng cực; sau khi khí vượng cực tức hưu; thoái mãi vô khí tức tù. Cho nên, cần biện rõ hưu tù vượng tướng, biết được cái cơ tiến thoái vậy. Là nhật chủ, là dụng thần tối cần vượng tướng, chẳng nên hưu tù vô khí; là hung sát, là kỵ thần chẳng nên vượng tướng, mà nên hưu tù tử tuyệt. Như cái khí ban đầu hành vượng, khí vượng vật tất thịnh, vượng thịnh khí chậm thoái, tướng là phương hướng khí trường sinh, hành khí cấp mạnh mẽ vô cùng tận. Hưu quá tức tù khí, khí tù là cái khí đã cực vượng, nên khí sinh chậm; cư nơi phương vị thoái khí, đang tiềm ẩn chưa hiển lộ. Vì vậy luận khí tiến thoái là phương pháp luận chính mà học giả cần phải chú tâm vậy.

    Viên cử lượng tạo mệnh: Đinh Hợi / Canh Tuất / Giáp Thìn / Nhâm Thân
    Đại vận: Kỷ dậu / mậu thân / đinh mùi / bính ngọ / ất tị / giáp thìn / quý mão / nhâm dần

    Giáp mộc cực hưu tù, Canh kim lộc vượng khắc can Giáp mộc, can năm Đinh hỏa khả dĩ chế Sát hộ thân, tối hiềm Thìn Tuất hai chi Tài sinh Sát khắc thân, mệnh cục tựa chừng như Sát trọng thân khinh, người thường không biết rằng Giáp mộc sinh tháng 3 khí đang tiến, Nhâm thủy cùng với Thân kim tương sinh nhật chủ, bất thương Đinh hỏa. Đinh hỏa tuy nhược nhưng thông căn Tuất thổ, Thìn thuộc thấp thổ, mộc thuộc dư khí. Thiên can nhật chủ nhất sinh nhất chế, địa chi gặp trường sinh, tứ trụ sinh hóa hữu tình, ngũ hành bất tranh bất kị. Hạn hành Đinh hỏa vận khoa giáp liên đăng, dụng thần hỏa chế Sát quá tỏ rõ.

    Ất Hợi / Canh Thìn / Giáp Tuất / Nhâm Thân
    Đại vận: Kỷ mão / mậu dần / đinh sửu / bính tý / ất hợi / giáp tuất / quý dậu / nhâm thân

    Cũng như cách tạo mệnh trên có khác đôi chút nhưng không lớn. Người thường luận “Giáp là anh trai của Ất, Ất lấy Canh làm chồng, biến hung thành cát”, tham hợp quên xung, tức Canh kim làm cách cục tốt đẹp, văn chương quý hiển, cớ sao mệnh gặp cơ hàn? Do không biết rằng Ất Canh hợp hóa kim trở lại phù trợ khắc thần. Mệnh trên nhật chủ Giáp Thìn, Thìn thuộc thấp thổ có thể sinh mộc; còn mệnh này nhật chủ Giáp Tuất, Tuất thuộc táo thổ không thể sinh giáp mộc; ở trên Thân Thìn cũng hóa, còn tạo mệnh dưới Thân Tuất bán hội kim cục sinh Sát khắc thân. Trên Giáp mộc đang tiến khí, tức Canh kim thoái khí, còn dưới Canh kim tiến khí, Giáp mộc thoái khí. Chọn lấy hai cách tạo mệnh trên, cách cục tự nhiên, cái cơ tiến thoái, không thể không biết vậy.

    Lời người dịch:
    Ở chương tri mệnh này, thánh nhân muốn nói đến cái dụng của tạo mệnh. Con người sống giữa trời đất, không hiểu mệnh như người lạc lối không phương hướng, hiểu biết và vận dụng được nó không những có thể giúp cho mình sáng suốt không lầm lạc mà còn giúp cho mọi người hay cho cả thiên hạ thoát khỏi mông muội vậy. Đồng thời người cũng nhấn mạnh đến cái lý tiến thoái của âm dương ngũ hành, tiến tức sinh vượng, thoái tức hưu tù. Thế cho nên, ”Lý thừa hành khởi hữu thường, tiến hề thoái hề nghi ức dương” vậy.


    Chương 6. Phối Hợp

    Phối hợp Can Chi tử tế tường, định nhân phúc họa dữ tai tường

    Thiên can địa chi tương phối tương hợp, người học mệnh cần phải tế tâm suy tường cái cơ tiến thoái, mà có thể đoán định được họa phúc tai ương vậy.

    Nhâm thị viết: Chương này cốt làm sáng tỏ những sai lầm ngụy tạo. Phối hợp can chi, cần sưu tầm nghiệm suy chính lý, cùng vượng suy hỷ kị của ngũ hành, không thể không luận can chi tứ trụ, chuyên lấy kỳ cách dị cục, thần sát các loại mà vọng đàm, mới biết họa phúc lấy chi làm bằng cớ, cát hung không nghiệm. Cái lý của mệnh, tồn đọng ở dụng thần, chẳng nên phân biệt câu nệ Tài, Quan, Ấn thụ, Kiêu Kiếp, Thương Thực, mà đều có thể làm dụng thần, cho rằng đẹp thì tốt cát lợi, ác tức xấu, tăng đạo. Nên cần nhất xem xét nhật chủ cường vượng, dụng thần hỷ kị, cần đè nén, ức chế thì đè nén ức chế, cần sinh phù thì sinh phù, do cái sự phối hợp qua lại mà xác định nên bỏ hay nên lấy, từ đó biết được vận đồ bĩ thái, họa phúc tai ương, chẳng không ứng nghiệm vậy.

    Càn tạo: Giáp Tý / Mậu Thìn / Canh Thân / Nhâm Ngọ
    Đại vận: Kỷ tị / canh ngọ / tân mùi / nhâm thân / quý dậu / giáp tuất / ất hợi / bính tý

    Luận theo thói thường, thiên can thấu tam kỳ thì cát, địa chi quý nhân cũng hợp là vinh, vả lại, Thân Tý Thìn tam hợp hội cục không gặp xung, Quan tinh đắc dụng, chủ danh lợi song toàn. Tuy nhiên Canh kim sinh vào quý xuân, thủy vốn hưu tù, nguyên có thể lấy Quan tinh làm dụng thần, hiềm vì chi hội thủy cục, tất Khảm thủy khí thế cường vượng, tức Ly hỏa khí thế suy nhược, Quan tinh thụ thương, không thể dùng làm dụng thần được. Muốn lấy Nhâm thủy vượng cực đối địch khắc thần, chỉ hiềm Canh kim đắc tam kỳ thấu Mậu, Kiêu vượng đoạt Thực, cũng không thể lấy làm dụng thần. Giáp mộc Tài tinh vốn có thể phù trợ dụng thần, làm thông thổ bảo vệ thủy, tiết Thương sinh Quan, tứ trụ dường như hữu tình, mà không biết rằng Giáp mộc thoái khí, Mậu thổ đương quyền, không thể thông thổ. Lấy Giáp mộc làm dụng thần, cũng là giả dụng thần, chẳng qua cũng chỉ là người bình thường mà thôi. Huống chi đại vận hành phương Tây Nam, Giáp mộc ở đất hưu tù, tuy được của cải tổ nghiệp truyền lại, cũng bằng không, còn hình thê khắc tử, cô khổ bần hàn. Lấy cách tam kỳ củng quý nhân luận mệnh, chẳng xem dụng thần sinh vượng, thật hư ngụy quá lắm.

    Càn tạo: Bính Tý / Kỷ Hợi / Ất Sửu / Nhâm Ngọ
    Đại vận: Canh tý / tân sửu / nhâm dần / quý mão / giáp thìn / ất tị / bính ngọ / đinh mùi

    Thiên can Nhâm thủy khắc Bính hỏa, địa chi Tý thủy xung khắc Ngọ hỏa, hàn mộc hỷ dương, chính Ngọ hỏa, thủy thế vượng thịnh, tất hỏa khí bị khắc tuyệt, tựa hồ danh lợi không thành. Ta suy nghĩ, ba thủy hai thổ hai hỏa, thủy thế tuy vượng, không có nguồn; hỏa vốn hưu tù cần thổ bảo vệ che chở, nhân đó mà được cứu; huống chi thiên can Nhâm thủy sinh Ất mộc, Bính hỏa sinh Kỷ thổ, đều lập nên môn hộ, tương sinh hữu tình, không có cái ý tương tranh tương khắc. Địa chi tuy cư bắc phương, nhưng hỷ Kỷ thổ nguyên thần thấu xuất, thông căn lộc vượng, hỗ tương che chở giúp đỡ, cần nên ngăn thủy bảo vệ hỏa, chính là có bệnh mà được cứu vậy. Với lại khí nhất dương vạn vật bắt đầu sinh sôi, mộc hỏa tiến khí, do đó Thương quan dụng thần tú khí. Trung niên vận tẩu Đông Nam, dụng thần sinh vượng, tuổi trung niên thi đậu. Giao vận Dần, hỏa sinh mộc vượng, đăng khoa giáp bảng, nhập cung vua, thanh vân đắc lộ vận trình tiến tới.
    Từ hai cách tạo mệnh trên cho thấy, phối hợp can chi có lý, có thể xem xét qua loa được ư?


    Chương 7. Thiên Can
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/9/16
    Ttc, truongvanla, Boyfear89 and 2 others like this.
  4. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    hôm nay đã là thứ 5 rồi, post cái lịch ngày thứ 4 lên hơi bị rối :134:
     
    uocmo22, Ttc, truongvanla and 4 others like this.
  5. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    phi tinh ngày khác phi tinh tháng, phi tinh tháng khác phi tinh năm, cho nên cái ở trên chung cho một năm là xài hong ổn. phải tra mỗi ngày. phi tinh nó di chuyển liên tục mỗi ngày. giống như vật chất luôn vận động không ngừng vậy đó.
    có một trang web để hôm nay để
    5-1-3
    4-6-8
    9-2-7
    số đẹp lúc nào cũng là số 1-9-8, số đẹp vừa là 4-6, còn lại là số xấu
    tài thần hôm nay là ở chánh đông, hỷ thần chánh nam.
     

  6. duonghoangthanh

    duonghoangthanh Thần Tài

    VẬY HÔM NAY HỎA SINH THỔ 92,98,HAY LÀ THỔ SINH KIM VẬY26,27,56,57
    CHO Ý KIẾN
     
  7. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    đường đi của các phi tinh cũng chính là thứ tự sắp xếp ta đang thấy. ngày mai thứ tự thay đổi như sau
    6 thay thế vị trí của 5
    7 thay thế vị trí của 6
    vv... và cứ thế ta có thể thay thế các vị trí còn lại cho những số khác.
     
  8. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    xét điều kiện lúc xổ thì biết ngay thôi
    ngũ hành ngày là thổ 0
    giờ xổ là hành thổ 5
    khả năng cùng tiến và cùng thoái
    ngày và giờ đều là hắc đạo, cho nên khả năng khắc vào và khắc ra nhiều hơn là sinh vào và sinh ra.:tea:
     
  9. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    sơ đồ này được chế tác dựa trên mô hình của Lưỡng Nghi Thái Cực
    trong âm thì ngoài dương và ngược lại
    mộc 3 --------- thủy 1

    -------- thổ 0--------

    hỏa 7 --------- kim 9
    dựa trên đồ hình của ngũ hành và khả năng luận số của mỗi người sẽ cho ra mỗi kết quả. mà kết quả nào cũng có lý. và cuối cùng A Đồng sẽ cho điểm :125:
     
  10. duonghoangthanh

    duonghoangthanh Thần Tài

    CẢM ƠN NHIỀU
    CHÚC HÔM NAY BIGWIN 3 MIỀN
    :wins::wins::wins:
     
  11. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    hôm nay tính theo tứ trụ bát tự tử bình con xung đẹp theo hướng tài thần và hỷ thần chính là Quý Mùi.:tea: 14-41
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/3/15
  12. duonghoangthanh

    duonghoangthanh Thần Tài

    nếu chọn khắc mạn phép xin chọn
    AB+XĨU
    12,15,18
    32,35,38
    42,45,48
    nếu lấn lướt sẽ có sinh 26,27,92,98
    nếu yếu sẽ có khắc 12,15,18........48
     
  13. Hải Triều

    Hải Triều Thần Tài

    ý tưởng hay...thiết lập xong cho xi file nhé
     
  14. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    và cuối cùng con 198 nó vẫn cứ đẹp, lâu lâu trong tuần là phải gặp nó 1 đến 2 lần. :125:
     
    truongvanla, Bahoian and hailuast like this.
  15. huuthuan1980

    huuthuan1980 Thần Tài

    -------N----
    ĐN 5-1-3 TN
    --Đ 4-6-8 T
    ĐB 9-2-7 TB
    -------B-----
    áp dụng đường đi của thiên xích thuận thì hôm nay nó sẽ thay đổi như sau
    giữa xuống tây bắc
    tây bắc lên tây
    tây xuống đông bắc
    đông bắc lên nam
    nam xuống bắc
    bắc lên tây nam
    tây nam sang đông
    đông lên đông nam
    đông nam về lại chính giữa
    lần lượt thay các giá trị cho nhau đôn dênh lên một nút tại mỗi chỗ sẽ có ngay một ngày mới may mắn
    -------N----
    ĐN 6-2-4 TN
    --Đ 5-7-9 T
    ĐB 1-3-8 TB
    -------B-----
    :126: nắm vững quy tắc đường đi của những con số, rồi vận dụng hướng tài thần và hỷ thần.
    cái vụ tính ra hướng tài thần và hỷ thần thì bó tay. có cao nhân nào tính được xin chỉ giúp :134::tea:
    hôm nay Hỷ thần Đông nam, Tài thần Bắc
    :cheer2::cheer2::cheer2::cheer2:
     

Chia sẻ trang này