Coca-Cola Năm 1973, "lợi nhuận chủ có"

Thảo luận trong 'Nhà & Đất' bắt đầu bởi linkdao, 20/7/16.

  1. linkdao

    linkdao Thần Tài

    Buffett hiểu quy mô nhân viên như thê'nào là phù hợp cho tại vìanh nghiệp và tin rằng có mỗi đô la: bởi vìanh thu sẽ sở hữu một mức phí tổn hợp’lý. Ông đã quyết định Carl Reichard và Paul Hazen tại Wells Fargo để tấn. công nghiêm khắc vào nhũng phí không cần thiết. Ông nhắc: "Họ ghê tởm việc tiêu tôn phần thuê căn hộ dolphin plaza phí nhiều hơn cần thiết, và tâín công phí tổn ác liệt khi lợi nhuận ở mức kỷ lục cũng như khi dưới mức đặt ra". Coca-Cola Năm 1973, "lợi nhuận chủ có" (thu nhập ròng cùng với khâu hao rổi trừ đi phí tổn .vôh) là 152 triệu đô la. Tới năm 1980, lợi nhuận chủ sở hữu là 262 triệu đô la, bằng 8% ti lệ phát triển cùng gộp hàng năm. Sau đó, từ năm 1981 tới năm 1988, lợi nhuận chủ với nâng cao từ 262 triệu đô la lên 828 triệu đô la, bằng 17,8% ti lệ vững mạnh giá thuê chung cư green park cộng gộp thường niên trung bình (xem hình 7.3). Tỉ lệ phát triển lợi nhuận sở hữu phản ánh trong giá cổ phiếu của Coca-Cola. Trong khoảng thời gian 10 năm từ năm 1973 tới năm 1982, tổng lợi nhuận của Coca-Cola tăng ở tỉ lệ trung bình thường niên là 6,3%. 10 năm sau, từ năm 1983 đến năm 1992, tổng lợi nhuận phát triển đạt tỉ lệ trung bình hàng năm là 31,1%.

    [​IMG]


    Lđi nhuận biên Giống như Philip Fisher, Buffett nhận trang bịc thuê chung cư mipec tower được rằng những vì.anh nghiệp to sẽ với một số vụ đầu tư tồi tệ nếu ban quản lý không thê’ biến bởianh thu thành lợi nhuận. Theo mẹo hay của ông, một số nhà ở quản lý của hệ thống hoạt động chi phí cao mang xu hướng mua một vài cậch để liên tục tăng tổng chi phí, trong khi các nhà quản lý của hệ thống hoạt động chi phí thâp luôn luôn sắm cách cắt nháim chi phí.
     
Tags: