Khi xâm nhập cơ thể, vi khuẩn lao có thể theo đường máu và bạch huyết đến cư trú, phát triển và gây bệnh ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể Tùy theo vị trí bị bệnh mà người ta chia bệnh lao thành 2 thể chính là lao phổi và lao ngoài phổi. Bệnh lao ở phổi hay còn gọi là lao phổi chiếm 80%, còn lại 20% là những thể lao khác nhau. Mỗi thể lao đều có những dấu hiệu riêng của nó nhưng thường gặp là lao phổi. Bệnh lao được xếp vào bệnh xã hội, nên được nhà nước quản lý theo hệ thố Một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn lao Đọc thêm: ung thư vòm họng là gì Vi khuẩn lao có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài Ở điều kiện tự nhiên, vi khuẩn có thể tồn tại 3 – 4 tháng. Trong phòng thí nghiệm người ta có thể bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm. Trong đờm của bệnh nhân lao ở phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ được độc lực. Dưới ánh nắng mặt trời vi khuẩn bị chết sau 1,5 giờ. ở 420C vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút ở 800C; với cồn 900 vi khuẩn tồn tại được ba phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn chỉ sống được một phút. Vi khuẩn lao là loại vi khuẩn hiếu khí Khi phát triển vi khuẩn cần đủ oxy, vì vậy giải thích tại sao lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất và số lượng vi khuẩn nhiều nhất trong các hang lao có phế quản thông. Vi khuẩn lao sinh sản chậm Trong điều kiện bình thường, trung bình 20 – 24 giờ/1lần, nhưng có khi hàng tháng, thậm chí “nằm vùng” ở tổn thương rất lâu, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể tái triển lại. Vi khuẩn lao có nhiều quần thể chuyển hoá khác nhau ở tổn thương Có nhữngquần thể vi khuẩn phát triển mạnh, nằm ngoài tế bào (nhóm A): có những quần thể vi khuẩn phát triển chậm, từng đợt (nhóm B); có những vi khuẩn nằm trong tế bào (nhóm C). Những quần thể vi khuẩn này chịu tác dụng khác nhau tuỳ từng thuốc chống lao. Vi khuẩn lao có khả năng kháng thuốc Vi khuẩn kháng thuốc do đột biến trong gen: Vi khuẩn kháng rifampicin đột biến ở gen rpo B mã hoá tổng hợp ARN – Polymerase. Vi khuẩn kháng isoniazid đột biến ở gen Kat G, Inh A, ahp C. Vi khuẩn kháng streptomycin và các amynoglycozid: đột biến ở gen rrS, rpsL hoặc cả hai gen này. Vi khuẩn kháng pyrazinamid: đột biến ở gen pnc A.