Cuộc đời sao lại quá bât công Để cho ta một chút chạnh lòng Người đày ta qua bao khổ ải Kẻ tặng ai kia những trắng trong Ai rũ giùm ai những đớn đau? Ai thanh lọc giúp những nỗi sầu? Người bắt ta chìm trong đêm vắng Nhìn đóa quỳnh thơm phải lắc đầu Em vẫn như xưa, một giọt sương Trong vườn hoang lạ gió chẳng vương Con nhện giăng tơ nơi tường vắng Đêm khuya trốn biệt dưới chân giường Đời quá xót xa với nhọc lòng Em chờ tia nắng cuối mùa đông Chờ hoài, đợi mãi không hy vọng Bầm tím thân em giữa cầu vồng
ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN ( BÌNH ĐỊNH ) Cổ kim bất phạp chân anh hùng Năng ngự ngoại hồi vi thượng công Tráng tai Thị Xuân kì nữ tử Thống suất tì hưu biến tây đông Tổ tông cương thổ bất dung vong Nam nhi tử tất tại sa trường Nam nhi bất hướng sa trường tử Cao ca nhất khúc khán Thị Xuân Tạm dịch Xưa nay chẳng thiếu các bậc thật sự anh hùng Có thể ngăn giặc ngoài làm nên công lao Mạnh thay Thị Xuân, người con gái lạ lùng Cầm quân vùng vẫy khắp tây đông Đất đai tổ tông không thể để mất Nam nhi hẳn nhiên phải chết ở chốn sa trường Nếu nam nhi mà không dám hướng về sa trường để chết Hãy hát lớn một khúc ca mà xem gương Thị Xuân. Người phụ nữ ưu tú chính là nữ Đô đốc Bùi Thị Xuân Thời anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ. Bùi Thị Xuân ( ? - 1802 ) Chính quê ở thôn Xuân Hào, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Nhơn, nay là thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Bà là nữ tướng danh tiếng thời Tây Sơn, vợ danh tướng Trần Quang Diệu, cháu Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Trích tài liệu của giáo sĩ De La Bissachère : Đứa con gái trẻ của bà (Bùi Thị Xuân) bị lột hết y phục. Một thớt voi từ từ tiến đến. Cô gái biến sắc rồi mặt trắng bệch như tờ giấy. Nàng ngoảnh nhìn mẹ, kêu thất thanh. Bà Xuân nghiêm mặt trách : Con phải chết anh dũng để xứng đáng là con của ta!... Đến lượt bà, nhờ lớp vải ở bên trong quấn kín thân thể, nên tránh khỏi sự lõa lồ. Và bà rất bình thản bước lại trước đầu voi hét một tiếng thật lớn khiến voi giật mình lùi lại. Bọn lính phải vội vàng bắn hỏa pháo,đâm cây nhọn sau đít con vật để nó trở nên hung tợn, chạy bổ tới, giơ vòi quấn lấy bà tung lên trời... Nhưng trái với lệ thường, nó không chà đạp phạm nhân như mọi bận mà bỏ chạy vòng quanh pháp trường... rống lên những tiếng đầy sợ hãi khiến hàng vạn người xem hoảng hốt theo...
ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA Bà Trưng quê ở Châu Phong Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên Chị em nặng một lời nguyền Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân Ngàn tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên Hồng quần nhẹ bước chinh yên Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta Ba thu gánh vác sơn hà Một là báo phục hai là Bá Vương Uy danh động tới Bắc Phương Hán sai Mã Viện lên đường tấn công Hồ Tây đua sức vẫy vùng Nữ nhi địch với anh hùng được sao! Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo Hai Bà thất thế cùng liều với sông! Trước là nghĩa, sau là trung Kể trong lịch sử anh hùng ai hơn. Hàng năm, vào ngày 6 tháng 2 âm lịch, là ngày giỗ hay là lễ hội tưởng nhớ Hai bà (cũng là Ngày Phụ nữ Việt Nam tại miền Nam trước kia) được tổ chức tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và hiện nay tại nhiều nơi trong nước Việt Nam cũng như cộng đồng người Việt tại nước ngoài.
chời em lỗi đạo quá -- quán mở đã lâu -- giờ em mới thấy bài thơ này Thất tình về mở quán này Ai cùng cảnh ngộ vào đây tỏ lòng Đời ta sao quá long đong Mới yêu... nàng đã có chồng còn đâu !! Anh là hạt sương chỉ tan trong nắng Nắng vô hình nắng chỉ đọng trong sương Anh yêu em bởi anh chính là nắng Giọt sương nào thiếu nắng lại long lanh. Một ngày không em dài vô tận ... Một lần mất em hận thiên thu ...
Giá như trút được tình nhân thế Sau chén sầu tan cạn nỗi niềm Ta chẳng đau dồn như sóng bể Suốt đời cuộn mãi chẳng bình yên... Có một bàn tay bỗng dịu dàng Xoa dùm bất chợt lúc hồn hoang Chẳng hay hiện thực là đâu nữa Chỉ thấy trần ai phận bẽ bàng Có một bàn tay vay chốc thôi Của người ta mượn... có ai vui!?... Không dưng khó cản làn hơi ấm Một thoáng bình yên... cũng tạm rồi Lâu vốn quên bờ, quên bến nao Thuyền đời sóng dữ đã quen chao Thuyền không phụ lái, không neo, chống Đâu biết ngày mai lạc chốn nào Thôi thì… Trả lại ngày qua lưng giấc mơ Nửa trời hư ảo nửa bơ vơ Khi biết niềm vui là ngõ hẹp Không có phần ta… chẳng cố chờ…
Em về với nỗi đắng cay Còn ta ở lại đấy căng một bầu Túi thơ, rượu chảy ào ào Say say, tỉnh tỉnh, ba đào ngã nghiêng.
Mời.. Cạn ly.. Tiễn người đi.. Thu nhắn gửi gì? Trăng sầu hoen úa mi.. Đời hợp tan có mấy khi? Gặp gỡ đây rồi lại chia ly.. Chẳng thể làm gì, chén sầu cuồng si..Thôi cứ uống đi, say rồi chẳng sợ biệt ly...
Hãy ngủ đi anh nhé Đường về còn xa xăm Vai em, anh cứ tựa Cho giấc trưa an lành Em sẽ ru anh ngủ Ầu ơ chuyện chúng mình Chuyện loài hoa lẻ bạn Đem về kết tình chung Anh ơi hãy cứ ngủ Em nhổ sợi ưu phiền Sợi tương tư giữ lại Cho thêm dài nhớ thương Ngủ ngoan đi anh nhé Em che cả mặt trời Mắt chẳng cần hấp háy Nhắm nghiền trên môi ai
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Hai Bà Trưng Voi trận mang hình ảnh của “voi 9 ngà” trong huyền thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh. Y phục theo áo dài khăn đóng của Việt Nam pha cùng y phục Tây Nguyên.
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Tướng Lê Chân Một trong những nữ anh hùng nước Việt. Bà là người có nhan sắc. Giỏi thủy chiến lại có tài thơ phú Được Trưng Vương phong là Thánh Chân công chúa.
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Đặng Dung Mài gươm dưới trăng là một hình ảnh bi hùng trong lịch sử và thi ca (qua bài thơ Thuật Hoài nổi tiếng của ông)
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Công chúa Huyền Trân Chuẩn bị cho hôn lễ tại Chiêm Thành, lòng buồn hướng về quê hương. Cuộc hôn nhân của bà với vua Chăm Pa là Chế Mân đã mang lại một phần đất đai rộng lớn cho Đại Việt.
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ An Dương Vương Bức tranh miêu tả lại sự tích An Dương Vương Thục Phán chém yêu tinh gà trắng Và xây thành Cổ Loa với sự trợ giúp của thần Kim Qui. Y phục của An Dương Vương phỏng tác theo hình khắc trên trống đồng.
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Bùi Thị Xuân Phút oanh liệt của nữ tướng Bùi Thị Xuân tại pháp trường Với hàm ý bà đã hoàn thành xong vai trò Và nhẹ nhàng, thanh thản trở về trời.
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Hồ Quý Ly & Hồ Nguyên Trừng Thời đại nhà Hồ được biết đến bởi những cải cách mới Và nhất là sự phát minh súng thần cơ (hỏa pháo cải tiến) Và thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng).
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Khúc Thừa Dụ & Khúc Hạo Được xem có công trong việc cải cách hành chính Và đặt cơ sở cho nền độc lập sau này. Y phục vẽ theo tượng của hai vị tại đền thờ
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Lê Đại Hành (Lê Hoàn) Từng trông giữ thập đạo quân dưới thời vua Đinh. Tranh vẽ với bối cảnh đoàn hùng binh Phía trên có rồng hiện ra tượng trương cho sự trỗi dậy của Đại Cồ Việt. Các cờ hiệu lấy từ các linh vật được tạo ra trong khu đền thờ thời tiền Lê và tiền Lý.
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) Được thần Kim Qui dâng Thuận Thiên Kiếm Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh. Trong tranh có các chiếc lá với dòng chữ “Lê Lợi Vi Quân, Nguyễn Trãi Vi Thần” Theo kế sách của Nguyễn Trãi.
LỊCH SỬ VN QUA TRANH VẼ Vua Lý Thái Tổ Nằm mộng thấy rồng bay - dời kinh đô và đặt tên là Thăng Long